CôngThương - Thực trạng
Tính đến ngày 28/5, mực nước ở một số hồ thủy điện chính đã xuống mức rất thấp, gần với mực nước không thể vận hành phát điện (mực nước chết) như các hồ: thủy điện Hòa Bình còn 2,22 m, thủy điện Thác Bà còn 0,50 m, thủy điện Tuyên Quang còn 1,82 m, thủy điện Trị An còn 1,48 m, thủy điện Đại Ninh còn 2,37 m, Thác Mơ còn 0,75 m trên mực nước chết… Trong hệ thống điện quốc gia, các nguồn thủy điện có tổng công suất đặt là 6.500 MW, chiếm tới 34% tổng công suất đặt nguồn điện. Do vậy, tình trạng khô hạn kéo dài thời gian qua đã làm giảm đáng kể sản lượng điện phát của các nhà máy thủy điện nói riêng và hệ thống điện nói chung. Tình trạng khô hạn cũng diễn ra ở Trung Quốc làm lượng điện nhập khẩu giảm đáng kể so với năm 2009. Bên cạnh đó, một số nhà máy nhiệt điện than mới đưa vào vận hành chưa hoạt động ổn định, một số nhà máy gặp sự cố phải dừng phát điện để sửa chữa, góp phần làm giảm sản lượng điện phát.
Trong khi đó, các hoạt động sản xuất, kinh doanh đang tiếp tục phục hồi đà tăng trưởng, thời tiết nắng nóng kéo dài trên cả nước, mùa mưa miền Nam đến chậm 1 tháng cũng làm tăng nhu cầu tiêu thụ điện của người dân, dẫn đến tổng nhu cầu sử dụng điện năng 5 tháng đầu năm 2010 tăng khoảng 22,77% so với năm 2009.
Dự báo, sản lượng điện toàn hệ thống giai đoạn cuối tháng 5, đầu tháng 6/2010 đạt mức 285 đến trên 300 triệu kWh/ngày (ngày 20/5 vừa qua đã đạt 303,3 triệu kWh kể cả sau khi đã thực hiện tiết giảm) với công suất cực đại hệ thống lên tới khoảng 15.000 MW, tăng tương ứng 22,31% về sản lượng và 14,77% về công suất so với cùng kỳ năm 2009.
Những vấn đề đặt ra
Trong điều kiện thiếu hụt nghiêm trọng về sản lượng điện, công tác đảm bảo cung cấp và vận hành hệ thống điện những tháng đầu năm 2010 nổi lên một số vấn đề: Đến nay, tổng công suất đặt nguồn điện đạt gần 19.000 MW, đủ để đáp ứng nhu cầu công suất và có một lượng dự phòng nhất định. Tuy nhiên, như đã nêu trên, một phần đáng kể công suất điện là do các nhà máy thủy điện cung cấp. Do vậy, khi các nhà máy thủy điện không thể phát hết công suất do thiếu nước, hệ thống điện sẽ thiếu về sản lượng điện cho nhu cầu điện của sản xuất và đời sống nhân dân. Trong bối cảnh đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã nỗ lực thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương trong việc huy động tối đa các nguồn điện. Tính chung 5 tháng đầu năm 2010, sản lượng điện chạy dầu FO (Hiệp Phước, Thủ Đức, Ô Môn, Cần Thơ) là 1,86 tỷ kWh, tuabin khí dầu DO (Cà Mau, Bà Rịa, Thủ Đức, Cần Thơ) là 330 triệu kWh (những nguồn này có giá thành sản xuất gấp từ 4-5 lần giá bán điện bình quân của EVN). Nhiều tổ máy hiện đang phải duy trì vận hành vượt quá yêu cầu kỹ thuật cho phép về thời gian sửa chữa như các tổ máy Nhiệt điện Phả Lại 1 và 2, Tuabin khí GT12 Phú Mỹ…
Cũng như những năm trước, việc thiếu hụt điện là khó khăn khách quan nhưng cũng chỉ mang tính nhất thời (cao điểm mùa khô từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 6/2010). Do thiếu hụt lớn về sản lượng điện, việc điều hòa, tiết giảm điện là khó tránh khỏi. Trong những trường hợp này, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và của Bộ Công Thương đã chỉ đạo rõ nguyên tắc điều hòa, tiết giảm điện là đảm bảo luân phiên, công bằng, không để xảy ra tình trạng mất điện liên tục, kéo dài ở một khu vực và đối với một hộ sử dụng điện. Bộ Công Thương cũng đã chỉ đạo Cục Điều tiết Điện lực thường xuyên theo dõi, cập nhật số liệu, đồng thời trực tiếp tổ chức các đoàn kiểm tra tại các địa phương về tình hình cung cấp điện và công tác vận hành hệ thống điện. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã nỗ lực thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương. Cơ bản đảm bảo điện phục vụ sản xuất, đặc biệt là các cơ sở sản xuất phục vụ xuất khẩu, các cơ sở sản xuất quan trọng theo danh sách do UBND các tỉnh xây dựng; đảm bảo điện phục vụ các trung tâm chính trị quốc gia, các sự kiện lớn, các khu vực bệnh viện, trường học; thực hiện điều hòa, tiết giảm điện luân phiên giữa các khu vực.
Tại một số địa phương, điện lực đã phối hợp với các hộ sử dụng điện để chủ động điều chỉnh kế hoạch tổ chức sản xuất, bổ sung các nguồn phát điện tại chỗ nhằm hạn chế ảnh hưởng của việc tiết giảm điện.
Cung cấp điện thời gian tới sẽ như thế nào?
Thời gian tới, nhu cầu điện sẽ tiếp tục tăng trưởng cao do miền Bắc và miền Trung vào mùa nắng nóng, sản xuất trong cả nước tiếp tục phục hồi. Từ nay đến trung tuần tháng 6, do mưa lũ chưa về thực sự trên các hồ thủy điện miền Bắc, trong khi nước các hồ miền Trung, miền Nam vẫn đang ở mức rất thấp, thời tiết còn diễn biến bất thường, khả năng cung cấp điện còn khó khăn. Đặc biệt, nếu mực nước các hồ thủy điện tiếp tục giảm đến mức nước chết có thể dẫn đến không chỉ thiếu sản lượng điện mà thiếu cả công suất phát của toàn hệ thống khi các tổ máy thủy điện phải dừng hoạt động. Vì vậy, trong nửa đầu tháng 6, tùy theo tình hình diễn biến thủy văn và tình hình khắc phục sự cố của các nhà máy nhiệt điện, sản lượng điện của toàn hệ thống có thể được duy trì ở mức 275 triệu kWh/ngày đến 285 triệu kWh/ngày. Do đó, sản lượng điện bị tiết giảm ở các tỉnh thuộc khu vực nông thôn miền Bắc, miền Trung và miền Nam sẽ vẫn ở mức cao, có thể lên tới từ 10 – 15%. Dự kiến, sau ngày 20/6, khi tình hình thủy văn được cải thiện thì việc sản xuất và cung ứng điện sẽ dần trở lại bình thường.
Thời gian tới, EVN đảm bảo cung cấp điện tối đa trong khả năng có thể và đảm bảo vận hành hệ thống điện an toàn trong giai đoạn cuối mùa khô 2010, tăng cường công tác giám sát thực hiện sản xuất và cung cấp điện. Các biện pháp được EVN áp dụng bao gồm: Tiếp tục huy động tối đa các nguồn điện, kể cả nguồn điện do EVN quản lý và các nguồn điện độc lập; điều chỉnh lịch bảo dưỡng, sửa chữa; tiếp tục hoãn sửa chữa các tổ máy nếu điều kiện kỹ thuật còn cho phép duy trì vận hành kết hợp với tăng cường giám sát tình trạng thiết bị; đẩy nhanh công tác xử lý sự cố đưa vào vận hành trong thời gian sớm nhất các nguồn nhiệt điện than mới như: Hải Phòng, Sơn Động, Quảng Ninh, Cẩm Phả; đẩy nhanh việc đưa vào khai thác các nguồn điện mới, thúc đẩy việc triển khai các dự án đầu tư trong và ngoài EVN; tăng cường chỉ đạo các điện lực địa phương có hình thức thông tin phù hợp tới các hộ sử dụng điện để tạo sự đồng thuận, chia sẻ và phối hợp có hiệu quả trong việc tăng cường tiết kiệm điện, sử dụng điện hợp lý trong điều kiện khó khăn về sản lượng điện hiện nay.