 |
| Nông dân, đối tượng cần được tiếp nhận nguồn vốn ưu đãi lãi suất. Ảnh: HOÀI THANH |
LTS: Trong phiên họp ngày 26-5-2009, kỳ họp lần thứ 5, Quốc hội khóa XII, ông Trần Hồng Việt, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh Hậu Giang, có ý kiến đề xuất về các chính sách kinh tế và an sinh xã hội. Báo Hậu Giang xin trích giới thiệu với bạn đọc.
Ông Trần Hồng Việt
Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Hậu Giang
Năm nay, khi tiếp xúc cử tri, đại bộ phận bà con nông dân tỏ ra vui vẻ hơn, ngoại trừ một số hộ nằm trong các dự án “treo, neo”. Một bộ phận công nhân mất việc làm trở về gia đình ở nông thôn sớm tỏ ra thích nghi tự tìm, tạo việc làm mới cũng không kêu ca dù bị mất việc làm, mất một số quyền lợi hợp pháp tại các doanh nghiệp.
Tại sao đồng bào có tâm lý lạc quan yên tâm như vậy? Ngoài hiệu quả của các giải pháp kích cầu, chính sách an sinh xã hội còn có yếu tố nào khác không?
Theo tôi, từ nửa năm 2008 đến nay, chỉ số tăng trưởng tuy thấp, nhưng chỉ số giá tiêu dùng ổn định và thấp hơn chỉ số tăng trưởng. Đây là vấn đề cần suy nghĩ để tính toán các chính sách kinh tế tầm vĩ mô.
* Thụ hưởng chính sách kích cầu, an sinh xã hội
- Một bộ phận hộ nông dân chưa tiếp nhận được nguồn vốn ưu đãi lãi suất do thủ tục khó khăn phức tạp; nhiều doanh nghiệp nhỏ thiếu vốn sản xuất cũng không tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi; các hợp tác xã nông nghiệp hầu như không tiếp cận được nguồn vốn này, hệ thống các hợp tác xã cả nước đến hết tháng 3, chỉ tiếp nhận được 0,18% tổng nguồn vốn đã giải ngân. Bà con cử tri cho rằng, thụ hưởng vốn ưu đãi kích cầu chỉ nhầm vào phần lớn các doanh nghiệp khá, các hộ khá và hộ giàu.
- Cách tính giá điện bậc thang trước đây 100 KW đầu, nay giảm xuống còn 50 KW là thiệt thòi cho số đông hộ có thu nhập trung bình và thu nhập thấp.
- Tỷ lệ cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn tuy có tăng, nhưng chưa tương xứng. Nhất là cơ sở hạ tầng, nhiều dự án kéo dài thời gian hoàn thành gây lãng phí, dự án đê bao khép kín kênh xáng Xà No - Ô Môn của Cần Thơ - Hậu Giang rất trì trệ, đã báo cáo nhiều lần, nhưng chậm khắc phục gây bức xúc trong dân chúng nhiều năm nay. Qua suy giảm kinh tế chúng ta thấy nông nghiệp, nông thôn là nơi trú ẩn khá an toàn cho một bộ phận lao động đô thị bị mất việc.
- Sự chênh lệch tiêu chí thu nhập hộ nghèo giữa thành thị và nông thôn nay không còn phù hợp, đề nghị chính phủ quy định lại hợp lý hơn vì giá cả hàng hóa thiết yếu khu vực nông thôn nay không thấp hơn đô thị, thậm chí cao hơn.
* Cần cân nhắc “ngăn chặn suy giảm kinh tế là mục tiêu hàng đầu”
Năm qua, lúc lạm phát lên đến đỉnh điểm thì chính phủ đưa ra mục tiêu tập trung toàn lực kềm chế lạm phát, xem nhẹ ngăn ngừa suy giảm kinh tế. Lúc ấy, nhiều đại biểu cảnh báo có dấu hiệu giảm phát và quả thật suy giảm kinh tế đã xảy ra. Nay, suy giảm kinh tế có dấu hiệu chạm đáy và xuất hiện dấu hiệu nguy cơ tái lạm phát, nhưng chính phủ cũng tập trung toàn lực chống suy giảm, vậy liệu cuối năm nay hay cùng thời gian này năm 2010 chính phủ lại đề ra mục tiêu tập trung toàn lực chống lạm phát? Chúng ta có hiện tượng để cho sự việc ngoài ý muốn xảy ra tự nhiên, rồi sau đó chống quyết liệt. Theo tôi, nhiệm vụ trọng tâm cấp bách của năm 2009 là “Tập trung cao độ mọi nỗ lực ngăn chặn suy giảm kinh tế, đồng thời với chủ động ngăn ngừa lạm phát, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý bền vững... Trong đó, ngăn chặn suy giảm kinh tế, đồng thời với ngăn ngừa lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu”.
Phải coi thiệt hại do lạm phát cao gây ra không kém so với suy giảm kinh tế, đặc biệt lạm phát cao rất nhạy cảm và tổn thương với đại đa số dân chúng.
* Tăng trưởng kinh tế và bội chi ngân sách
Trong hoàn cảnh hiện nay của nền kinh tế nội tại và kinh tế thế giới, chính phủ điều chỉnh giảm GDP từ 6,5 xuống 5% là có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, chỉ số CPI điều chỉnh từ dưới 15% xuống còn dưới 10% cần phải cân nhắc hạ thấp hơn nữa.
Theo tôi, chỉ số CPI không được vượt quá 1,2 lần GDP trong điều kiện kinh tế hiện nay là phù hợp, vì vậy nếu tốc độ tăng trưởng 5% thì chỉ số tăng giá không vượt quá 6% là xã hội chấp nhận, bảo đảm an sinh xã hội. Bên cạnh cần phải duy trì mức chi cần thiết cho kích cầu, chi cho an sinh xã hội, tăng bội chi ngân sách là một yêu cầu thực, nhưng bội chi ở mức nào là phải hết sức cân nhắc.
Ngoài giảm thu từ nguồn dầu thô như các giả định trong tờ trình của chính phủ, chúng ta không để giảm thu một số lĩnh vực khác như không miễn thuế thu nhập cá nhân như đề nghị của chính phủ, giảm chi một số lĩnh vực hành chính công, lễ hội... Chi thường xuyên phải thấp hơn nguồn thu thuế, phí. Cũng phải xem lại lượng vốn chi kích cầu, hiện nay chiếm 10% GDP, trong khi các nước chỉ chi khoảng từ 2-4%. Chấp nhận bội chi ngân sách với mức mà nền kinh tế hấp thụ và sinh lợi, phải cảnh giác với “bội thực” gây thất thoát lãng phí, cơ hội cho tham nhũng và tái lạm phát. Ngay cả sử dụng 30% nguồn thu sử dụng đất của các địa phương được chi cho thường xuyên theo đề nghị của chính phủ cũng không phù hợp, mà phải để đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của pháp luật hiện hành. Từ những quan điểm trên, tôi đề nghị bội chi ngân sách không vượt quá 7% GDP (kể cả trái phiếu chính phủ).
* Miễn giảm thuế thu nhập cá nhân
Theo tờ trình của chính phủ, mục đích miễn thuế thu nhập cá nhân nhằm kích cầu tiêu dùng bảo đảm an sinh xã hội là chưa thuyết phục. Bởi, giá điện sinh hoạt đã tăng, mức giá điện bậc thang từ 100 KW đầu xuống 50 KW; giá nước sẽ tăng giá, nhiều mặt hàng thiết yếu sẽ tăng; học phí sẽ tăng.
Vậy, người có thu nhập trung bình và thu nhập thấp đều có nghĩa vụ ngang với người khá, người giàu. Miễn thuế thu nhập (không chịu sự điều tiết) là không công bằng, không được sự đồng thuận của xã hội. Hơn nữa, bội chi ngân sách theo đề nghị của chính phủ đến 8% do có yếu tố giảm miễn thuế thu nhập là không thuyết phục.
Để dung hòa, đề nghị các đối tượng được tạm giãn nộp thuế thu nhập cá nhân trong 6 tháng đầu năm 2009 thì được miễn toàn bộ số thuế đã giãn, nhưng từ ngày 1-7 trở đi tất cả các đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân phải nộp đủ thuế theo luật hiện hành.
Theo Báo Hậu Giang